Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

Than Việt Nam và những vấn đề cần tháo gỡ

Khi chúng ta còn nhỏ đã được dạy rằng 'Việt Nam rừng vàng biển bạc'. Quả đúng là như vậy, nguồn tài nguyên của đất nước khá là phong phú từ tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng đến biển...Tuy nhiên trong những năm qua do khai thác quá mức mà chúng dần dần cạn kiệt đến mức đáng ngại. Đặc biệt trong số đó than ban đầu có số lượng rất lớn nhưng lại đang dần dần biến mất.

 
Than Việt Nam
Trữ lượng than đá được đánh giá là 3,5 tỷ tấn trong đó ở vùng Quảng Ninh trên 3,3 tỷ tấn. Quảng Ninh được xem là mỏ than đá lớn và có nhiều tiếm năng khai thác nhất. Được khai thác từ rất sớm khoảng 100 năm trước, nơi đây với nhiều mỏ lộ thiên đã chiếm đến 90% sản lượng than khai thác hàng năm của nước ta. Với công nghệ khai thác được cải tiến qua thời gian nên nhiều mỏ đã khai thác hết và bị bỏ hoang lâu ngày gây ô nhiễm môi trường, thông tắc cống khu vực là điều thường xuyên phải làm. 

Không chỉ có than đá mà than bùn, than mỡ, than nâu...cũng được khai thác với trữ lượng lớn. Trong đó than mỡ trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27 triệu tấn. Được dùng chủ yếu trong ngành luyện kim với nhu cầu lớn sau năm 2000, than mỡ với các tính chất của nó được khẳng định là nguồn năng lượng quan trọng. Nhu cầu ước tính sẽ tăng đến 5-6 tr.T/n vào giai đoạn 2010-2020. 

Với tốc độ khai thác chóng mặt như vậy sẽ tạo một áp lực không hề nhỏ đến nguồn tài nguyên than của chúng ta biến các mỏ than thành mỏ than chết. Trong quá trình khai thác than gây ô nhiễm nguồn nước, nguồn đất là chủ yếu. Nước sau sử dụng biến thành dòng nước đen ngòm hơn cả nước hút bể phốt. Khu đất xung quanh mỏ than thì bị than xâm nhập mất đi sự màu mỡ vốn có của nó.

Tóm lại khai thác than cần có lộ trình hợp lý bền vững với tương lai kết hợp bảo vệ môi trường xung quanh khu vực khai thác đồng thời cải tiến công nghệ nâng cao năng lực để khai thác hiệu quả nhất tránh lãnh phí, thông tắc cống.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét